Quảng Trị: Lịch sử
=== Thời tiền sử ===
Dấu tích khảo cổ học đã khẳng định Quảng Trị là một địa bàn cư trú lâu đời của cư dân nguyên thủy với tiến trình phát triển liên tục và mạnh mẽ từ thời đại Đồ đá cũ đến Sơ kỳ kim khí. Cách ngày nay khoảng 2 đến 3 vạn năm, những lớp cư dân đầu tiên đã xuất hiện và sinh sống tập trung tại các xã/ đặc khu Cam Lộ, Cồn Cỏ, Khe Sanh, Hướng Tân, tiêu biểu là các di chỉ Tân Sở (Cam Lộ), Đồi 241/Ken-Karol (Cam Lộ) và Bến Nghè (Cồn Cỏ), nơi phát hiện chủ yếu là các công cụ đá cuội được chế tác bằng kỹ thuật ghè đẽo đơn sơ như mảnh tước, rìu, bôn. Bước sang thời đại Đồ đá mới, dấu ấn văn hóa Hòa Bình cách đây khoảng 1,5 đến 2 vạn năm tiếp tục được phát hiện rộng khắp tại các khu vực Đakrông, Hướng Hóa, Gio Linh, Cam Lộ, kết hợp với các phát hiện về cư dân sơ kỳ đá mới cách đây khoảng 10.000 năm tại các vùng núi như khu vực Minh Hóa, Quảng Ninh, cho thấy con người đã biết sử dụng các nguyên liệu tự nhiên như đá, xương động vật, gỗ và cây rừng để chế tác công cụ khai thác tự nhiên. Trong giai đoạn này, cư dân cư trú chủ yếu trong các hang động, mái đá, sống dựa vào nguồn thức ăn đa dạng từ săn bắt thú lớn (hươu, nai, lợn rừng) và hái lượm các loại quả rừng, nhuyễn thế (ốc, hến) với sự phân công lao động rõ rệt giữa nam giới và phụ nữ.
Đến thời kỳ Hậu kỳ đá mới - Sơ kỳ kim khí (khoảng 5.000 đến 2.000 năm trước), địa bàn cư trú có sự dịch chuyển mạnh mẽ và phân lập thành hai nhóm rõ rệt: nhóm duy trì lối sống trong hang động, mái đá tại địa bàn cận núi như Minh Cầm (xã Tuyên Bình), Khe Toong (xã Trường Sơn), Xóm Thâm (xã Kim Phú), Đức Thi (xã Ninh Châu) và nhóm tiến xuống định cư tại các thung lũng, ven sông, ven biển như di chỉ Bàu Tró (phường Đồng Hới), Bàu Khê (xã Bắc Trạch), Bàu Sen (xã Sen Ngư), Lệ Kỳ (xã Quảng Ninh), Cồn Nền (xã Quảng Trạch), Ba Đồn (phường Ba Đồn), cùng các vùng Gio Linh, Vĩnh Linh, Hải Lăng. Nhờ làm chủ thành thạo các kỹ thuật mới như mài, cưa, khoan, họ đã chế tạo được những lưỡi rìu, bôn, cuốc, dao có độ sắc bén cao và phát triển nghề gốm điêu luyện, đưa nông nghiệp trồng lúa nước trở thành hoạt động kinh tế chủ đạo, giúp cuộc sống ổn định và hình thành các xóm làng định cư bền vững. Đời sống tinh thần cũng được nâng cao rõ rệt thông qua việc tự làm đẹp bằng các loại đồ trang sức tinh xảo như vòng tay, khuyên tai, nhẫn, hạt chuỗi bằng đá, gốm và vỏ sò ốc dùi lỗ, đồng thời thể hiện sự gắn kết cộng đồng và tình cảm sâu sắc dành cho người đã khuất. Đặc biệt, cách ngày nay khoảng 2.000 đến 2.500 năm, việc phát hiện các dấu tích mang đặc trưng của văn hóa Đông Sơn và văn hóa Sa Huỳnh tại khu vực Đakrông, Hướng Hóa, Gio Linh, Vĩnh Linh, Hải Lăng đã đánh dấu bước ngoặt khi cư dân phát hiện và sử dụng kim loại để chế tác công cụ lao động. Chính sự phát triển vượt bậc này đã góp phần nâng cao năng suất, làm cho công xã thị tộc bước vào giai đoạn tan rã và đặt nền móng cho sự hình thành xã hội văn minh trên dải đất Quảng Trị.
Từ thời Hùng Vương - An Dương Vương, vùng Quảng Trị ngày nay được cho là thuộc lãnh địa bộ Việt Thường của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. Đầu Nhà Hán thuộc (từ năm 111 trước Công Nguyên đến năm 192), Quảng Trị thuộc đất quận Nhật Nam. Cuối thế kỷ 2, nhân triều đình nhà Hán sụp đổ, Trung Quốc rơi vào tình trạng loạn lạc, cát cứ, một chính quyền bản xứ của quận Nhật Nam và xứ Tượng Lâm đã được hình thành, lập nên vương quốc Lâm Ấp. Lãnh thổ của Lâm Ấp được phỏng đoán tương ứng với vùng từ đèo Hải Vân đến đèo Ngang ngày nay, tức bao gồm cả vùng Quảng Trị. …